Thứ Bảy, Tháng Ba 2, 2024
spot_img
HomeThị trườngCơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, nhận thức vai trò...

Cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, nhận thức vai trò của dịch vụ và xuất, nhập khẩu

Khi Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập, nhận thức được vai trò của dịch và hoạt động xuất, nhập khẩu dịch vụ đã rõ ràng, nhận được nhiều sự quan tâm hơn,… Điều này đã và đang giúp các ngành dịch vụ thu hút ngày càng nhiều số lượng người lao động, tạo ra nhiều việc làm, góp phần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân cũng như đem đến nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế.

Trong số 105 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã có những số liệu so sánh thực tế hiện đang có tới 78 nước và vùng lãnh thổ đang sở hữu tỷ trọng dịch vụ/GDP chiếm trên 50%, trong đó tập trung hầu hết là những nước phát triển, có nguồn thu nhập cao. Chính điều này đã chứng tỏ vai trò to lớn của ngành dịch vụ đối với sự phát triển của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam rất quan trọng và cần thiết trong hiện tại và tương lai.

Ngành dịch vụ phát triển mạnh mẽ, nhưng tỷ trọng còn thấp

Hiện nay, với nhận thức về vai trò quan trọng của dịch vụ, nhóm ngành dịch vụ của Việt Nam đã và đang đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể khi nhóm ngành dịch vụ đã góp phần giải quyết công ăn việc làm khi tỷ trọng lao động của nhóm ngành dịch vụ trong tổng số lao động đã tăng lên so với trước đây.

Bên cạnh đó, tỷ trọng lao động nhóm ngành dịch vụ ngày càng có nhịp độ tăng nhanh hơn, bắt đầu từ năm 2015 đã chiếm 1/3 tổng số lao động và năm 2019 tới nay nhóm ngành này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 3 nhóm ngành. Điều này không chỉ giải quyết công ăn việc làm mà còn góp phần to lớn nâng cao tính năng động của nền kinh tế và góp phần hình thành, phát triển thị trường lao động, tăng tính thị trường của nền kinh tế Việt Nam; không chỉ đối với kinh tế thực, mà cả kinh tế dịch vụ, không chỉ kinh tế mà cả một số lĩnh vực xã hội khác.

Một số ngành triển vọng của nhóm ngành dịch vụ, ngành hiện đang có số lao động đông nhất đang là thương mại (hoạt động bán buôn, bán lẻ,…), tiếp đến là dịch vụ lưu trú, ăn uống, giáo dục – đào tạo, vận tải kho bãi, hoạt động của Đảng, tổ chức xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc, hoạt động dịch vụ khác, y tế và hoạt động trợ giúp xã hội, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hoạt động hành chính và dịch vụ  hỗ trợ, hoạt động chuyên môn và khoa học công nghệ, kinh doanh bất động sản, nghệ thuật, vui chơi, giải trí, hoạt động làm thuê, dịch vụ tự tiêu dùng, hoạt động của các tổ chức, cơ quan quốc tế.

Kể từ năm 2015, tỷ trọng vốn đầu tư cho nhóm ngành dịch vụ đã vươn lên lớn nhất trong 3 nhóm ngành và từ năm 2018, tỷ trọng vốn vào nhóm ngành này đã lớn hơn tổng của cả 2 nhóm ngành còn lại.

Tính về số lượng vốn trong nhóm ngành dịch vụ, lượng vốn lớn nhất hiện đang tập trung là hoạt động dịch vụ khác, kế tiếp và vận tải, kho bãi, thương mại, kinh doanh bất động sản,…

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong khu vực doanh nghiệp, năm 2020, nhóm ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng cao hơn 2 nhóm ngành còn lại về số doanh nghiệp (66,7%), vốn sản xuất kinh doanh (66%), giá trị TSCĐ và đầu tư tài chính dài hạn (53,7%), đồng thời chiếm tỷ trọng cao về các chỉ tiêu còn lại (doanh thu thuần: 49,3%, lợi nhuận trước thuế: 41,8%, thu nhập của người lao động: 38,9% và số lao động: 37,1%) .

Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP đã có xu hướng cao lên, đạt đỉnh vào 5 năm trước đại dịch (năm 2015: 42,19%, 2016: 42,85%, 2017: 42,58%, 2018: 42,17%. 2019: 42,47%), chỉ bị giảm xuống vào 2 năm đại dịch xảy ra và bùng phát (năm 2019: 41,83%, 2021: 41,21%), trong đó có nhiều ngành cụ thể còn giảm nhiều hơn, như vận tải kho bãi, dịch vụ lưu trú, ăn uống,… Năm 2022, tỷ trọng dịch vụ trong GDP đã phục hồi trở lại khi đạt 41,33%, trong đó có một số ngành phục hồi nhanh chóng là thương mại, vận tải kho bãi, dịch vụ lưu trú ăn uống, nghệ thuật vui chơi giải trí,…

Nguyên nhân khiến tỷ trong các nhóm ngành dịch vụ trong GDP tăng nhanh chủ yếu do tốc độ tăng GDP nhóm ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng chung. Cụ thể là trong các năm 2015, 2016, 2017, 2019 nhóm ngành dịch vụ tăng tương ứng: 7,05%, 7,46%, 7,12%, 8,08%. Đến khi có đại dịch lan tới và bùng phát khiến sức tăng chậm lại thấp nhất trong 3 nhóm ngành (năm 2020: 2,01%, 2021: 1,57%). Bước đến năm 2022, khi đại dịch đã được kiểm soát, nhóm ngành dịch vụ có sự tăng trưởng ngoạn mục khi tăng cao nhất trong 3 nhóm ngành đạt 9,99%, trong đó tập trung vào các nhóm ngành là dịch vụ lưu trú, ăn uống, hoạt động hành chính, dịch vụ hỗ trợ, hoạt động dịch vụ khác, dịch vụ vui chơi giải trí, vận tải kho bãi,…

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng nhóm ngành dịch vụ vẫn còn khá nhiều những hạn chế và thách thức. Hạn chế rõ ràng nhất là tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP của Việt Nam hiện đang thuộc loại thấp so với khu vực, châu Á và thế giới.

Trong khu vực Đông Nam Á, năm 2020, tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Việt Nam đứng vị trí khá thấp thứ 7 trong 11 nước, Việt Nam chỉ đứng ngang với Myanmar, đứng trên Brunei (41,5%), Lào (40,7%), Campuchia (36,6%).

Tại Châu Á, tỷ trọng dịch vụ trong GDP của Việt Nam chỉ đứng thứ 27/35 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh ngoài 6 nước Đông Nam Á, còn thấp hơn Trung Quốc, Hồng Kông (TQ), Nhật Bản, Hàn Quốc, Arcmenia, Azerbaijan, Jordan, Kawait, Libani, Oman, Palestin, Ả Rập Xê út, Thổ Nhĩ Kỳ, Kazakhstan, Afganistan, Banglades, Ấn Độ, Iran, Nepan, Pakistan, Xrilanca.

Trên thế giới, tỷ trọng dịch vụ/GDP của Việt Nam đứng thứ 94/105 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh, ngoài 27 nước châu Á, còn có hầu hết tập trung ở các nước châu Âu, châu Úc, châu Mỹ và nhiều nước châu Phi.

Có nhiều nguyên nhân khiến tỷ trọng dịch vụ/GDP của Việt Nam thấp so với nhiều nước chủ yếu là do những vấn đề sau:

  • Việt Nam chuyển sang hoặc thực hiện cơ chế thị trường chậm hơn nhiều nước;
  • Tính chuyên nghiệp của dịch vụ đối với nhiều hoạt động còn thấp, còn dựa vào tự sản tự tiêu, còn do các cơ quan, đơn vị kiêm nhiệm nhiều hoạt động dịch vụ (đội xe, làm vệ sinh, bảo vệ,…);
  • Tỷ lệ lao động phi chính thức của nhóm ngành dịch vụ tuy có giảm xuống (năm 2017 là 64,5%, năm 2018 còn 62,9%, năm 2019 còn 61,7%), nhưng đều lớn hơn ở các nhóm ngành còn lại.

Lao động phi chính thức không có bảo hiểm xã hội bắt buộc, công việc không ổn định, thu nhập cao thấp rất khác nhau và không ổn định, khó thống kê chính xác… đòi hỏi những phương án giải quyết có hiệu quả ở hiện tại và tương lai nếu muốn tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ/GDP của Việt Nam vươn tầm khu vực và trên thế giới.

Source: https://vneconomy.vn/dich-vu-va-xuat-nhap-khau-dich-vu-ket-qua-va-van-de-dat-ra.htm

Cập nhật thông tin mới nhất về Thị trường Logistics Việt Nam & Quốc tế tại Đây

spot_img
Roger Phạm
Roger Phạm
Roger Phạm, Biên tập viên đóng góp cho lĩnh vực Vận tải nội địa và là thành viên của đội ngũ truyền thông. Anh ấy tổng hợp và cung cấp các kiến thức về Logistics Hàng Không, tư vấn giải pháp vận chuyển hàng trong nước phù hợp với từng doanh nghiệp tại các khu công nghiệp lớn. Có thể theo dõi Roger Phạm trên Reddit, Facebook.
Có thể bạn quan tâm
- Advertisment -spot_img

Tin phổ biến

Recent Comments